Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2015

TRƯƠNG MINH TAM LẠI TIẾP TỤC CÀO MẶT ĂN VẠ

Trương Minh Tam lại ngựa quen đường cũ và hành trình hoàn lương của y vẫn đang còn rất dài ở phía trước!

Dường như từ khi ra khỏi trại giam vào ngày 7/10/2014 (sau khi chịu án phạt 1 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản) đến nay Trương Minh Tam quê ở Bắc Lý – Lý Nhân- Hà Nam vẫn chưa nhận thức được những hành vi sai trái của mình cùng với những tư tưởng hằn thù chế độ và thói quen xuyên tạc, vu cáo đã ăn sâu vào tiềm thức của Trương Minh Tam. Từ việc Trương Minh Tam tích cực tham gia các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc chống phá đất nước do các đối tượng chống phá đất nước tổ chức cho đến việc trả lời phỏng vấn các đài báo, trang mạng không có thiện chí với Việt Nam như RFA, BBC, Dân làm báo… hay ra nước ngoài gặp gỡ các tổ chức quốc tế tôn thờ chế độ cờ vàng ba que và đồng thời để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo sự thật về tình hình đối xử với tù nhân ở Việt Nam và thực tiễn dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Và gần đây Trương Minh Tam lại sử dụng chiêu trò ăn vạ, vu cáo bị “chính quyền” đánh, cướp đồ đạc vào ngày 24/8 vừa qua trên đường tới thăm tù nhân Đặng Xuân Nghĩa ở trại giam số 5 Yên Định Thanh Hóa.


Trương Minh Tam cào mặt ăn vạ. Ảnh: internet

Trên trang Dân làm báo cùng với các trang mạng như Việt Tân, Nhật ký yêu nước… đã đăng tải những hình ảnh do “đồng hương” của Trương Minh Tam là thím dân chủ Trần Thị Nga cung cấp cùng với những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc cho rằng đã có bàn tay của “chính quyền” trong việc đánh người và cướp đồ đạc của Trương Minh Tam. Nực cười thay cho Trương Minh Tam, Trần Thị Nga và các trang mạng trên mà trong đó có bút danh Đặng Hoài Ân của Dân làm báo khi vụ việc gì liên quan đến đồng bọn của những “đồn bọn” của chúng thì đều quy về là do “chính quyền”, Công an đứng sau chỉ đạo. Chúng nghĩ rằng chỉ với những hình ảnh tự sướng cùng với những luận điệu đó thì chúng thích vu cáo cho ai cũng được đấy sao? Trương Minh Tam một lần nữa trở thành nhân vật chính trong màn kịch ăn vạ, vu cáo - chiêu trò “đặc sản” của làng dân chủ lâu nay sau hàng loạt cái tên như Nguyễn Chí Tuyến, Trịnh Bá Phương hay cả Trần Thị Nga và đã được người dân vạch rõ bộ mặt thật của mình.

Sự thật thì không có chuyện chính quyền hay' lực lượng nào rảnh rỗi đi thực hiện những trò bẩn thỉu mà chỉ có bọn chúng mới nghĩ ra mà thôi. Đây cũng là một chiêu trò để Trương Minh Tam, Trần Thị Nga muốn đánh bóng tên tuổi của mình đồng thời tạo cớ để tuyên truyền, xuyên tạc chống phá đất nước mà thôi. Cái cách chúng vu cáo, ăn vạ cũng giống như màn kịch “tuyệt thực” mà trước đây trong trại giam Trương Minh Tam cũng đã học đòi theo các bậc tiền bối như Cù Huy Hà Vũ hay Nguyễn Văn Hải. Chỉ có điều, Trương Minh Tam chỉ bỏ ăn ngày thứ 2 trong tuần còn các ngày còn lại vẫn chén bình thường cho nên ngày ra tù anh vẫn béo trắng ra như anh Vũ béo đấy.

Còn nhớ trước đó vào ngày 13/6 vừa qua khi Trương Minh Tam ở bên Mỹ đã trả lời phỏng vấn trên đài RFA về tình hình nhân quyền ở Việt Nam, y đã xuyên tạc rằng các “tù nhân lương tâm” ở Việt Nam bị đầy ải trong nhà tù với những khổ cực trong sinh hoạt, đời sống. Trương Minh Tam đã quên rằng ở Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị” như Tam cùng đồng bọn đã tuyên truyền trong thời gian qua. Những người như Trương Minh Tam, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Bùi Thị Minh Hằng… là những người đã những kẻ phạm pháp, đã phạm vào các tội được quy định trong Bộ luật Hình sự của Việt Nam và họ phải chịu những hình phạt nghiêm khắc của pháp luật là điều dĩ nhiên và đó là trách nhiệm của mỗi công dân và thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật Việt Nam

Hơn nữa, việc Trương Minh Tam cho rằng ở Việt Nam tù nhân bị đầy ai với những khô cực trong sinh hoạt, đời sống là sự bịa đặt, xuyên tạc trắng trợn. Rõ ràng việc bản thân Tam cũng như Cù Huy hà Vũ tuyên bố tuyệt thực cả tháng trời nhưng ra tù vẫn béo tốt thì việc Tam phát biểu như vậy khác gì “gậy ông đập lưng ông” đâu. Trương Minh Tam cũng nên hiểu rằng chính đất nước Mỹ mà Trương Minh Tam đang tôn thờ như “thiên đường” đó trong lịch sử chiến tranh ở Việt Nam họ đã xây dựng nhà tù ở khắp miền Nam nước ta như “nấm mọc sau mưa” để giam giữ, tra tấn, hành hạ cho đến chết với hàng vạn tù nhân là những người yêu nước, thực sự muốn đánh đuổi quân xâm lược giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc và những di tích nhà tù nổi tiếng là minh chứng cho những tội ác dã man của thiên đường dân chủ Mỹ mà Trương Minh Tam đang tôn thờ đấy.

Có vẻ như bản chất thích tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo, ăn vạ đã ăn sâu vào con người của Trương Minh Tam và trước sự cám dỗ của đồng tiền và sự quan tâm, tài trợ, hậu thuẫn từ bên ngoài thì con đường trở về cuộc sống lương thiện của Trương Minh Tam vẫn đang còn nhiều “chông gai”.

Tống Giang

Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2015

TRƯƠNG DUY NHẤT NGỰA QUEN ĐƯỜNG CŨ

Dường như sau khi mãn hạn tù, Trương Duy Nhất đã không hồi tâm chuyển ý, ăn năn hối cải về những hành vi vi phạm pháp luật gây ra trước đó. Bản tính huênh hoang, ảo tưởng, hằn học lại tiếp tục chế ngự Duy và chút lương tri còn lại cũng dần rơi rớt khi mà “ngựa quen đường cũ”. Trương Duy Nhất - chủ blog “Một góc nhìn khác” đã tuyên bố trở lại trên facebook cá nhân của mình ngày hôm qua (24/8/2015). Hai năm ở trong tù, Trương Duy Nhất cảm thấy “vinh” trong cuộc đời chứ không phải như xã hội đang nghĩ về y, rằng “có loại tù làm người ta nhục nhã, nhưng có loại tù chỉ khiến họ vinh quang”. Quả thực, sự ảo tưởng về bản thân cộng với cái danh hão “Anh hùng thông tin thế giới” mà tổ chức “Phóng viên không biên giới” phong cho đã làm cho Nhất ngày càng trở nên lộng ngôn.


Sau khi ra tù Trương Duy Nhất tiếp tục tạo lập trang Truongduynhat.org để hoạt động chống Đảng, Nhà nước
Trước đó, Trương Duy Nhất đã bị bắt, khởi tố và bị Tòa án nhân dân T.P Đà Nẵng tuyên phạt 2 năm tù giam về tội danh “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” theo Điều 258 của Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của Trương Duy Nhất được xác định là thông qua blog cá nhân để viết và đăng tải nhiều bài viết với nội dung sai sự thật, mục đích tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, gây hoang mang trong dư luận xã hội và ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Ngoài ra, là người được thụ hưởng nền hòa bình của đất nước bởi biết bao hy sinh xương máu của các thế hệ ông cha, nhưng Trương Duy Nhất lại đưa ra những bài viết xuyên tạc lịch sử dân tộc, tự biến mình thành kẻ tiếp tay cho các thế lực bên ngoài chống phá Việt Nam. Bản thân là người có học thức, đã từng nhiều năm công tác trong nghề báo nhưng Trương Duy Nhất đã bẻ cong ngòi bút của mình.

Lý do ngụy biện mà Trương Duy Nhất đưa ra cho những hành vi vi phạm pháp luật của mình là con người có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Rõ ràng, ở Việt Nam hay bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều công nhận và coi trọng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của con người. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền này cần phải đặt lợi ích của xã hội, của cộng đồng lên trên hết và tuân thủ đúng pháp luật. Đồng thời nó không được xâm phạm đến lợi ích của quốc gia, dân tộc, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng quốc gia và không thể áp đặt khuôn mẫu của nước này lên nước khác. Báo chí, ngôn luận là một kênh để thực hiện phản biện xã hội nhưng cần phải đảm bảo sự chân chính, trung thực, khách quan, không thiên vị. Nhưng những gì Trương Duy Nhất đã làm là ngược lại như vậy. Các bài viết của y chẳng phải là sự phản biện có cơ sở, lập luận khoa học mà hoàn toàn là đưa tin sai sự thật, xuyên tạc và bóp méo sự thật tạo ra sự hoang mang trong dư luận xã hội.

Sự lệch lạc này của Trương Duy Nhất vẫn tiếp tục trong lần tuyên bố “trở lại” này của y “Tôi vẫn kiên định mục tiêu cũ, không thay đổi. Chỉ có thể cưỡng bức được hành vi chứ không cưỡng bức nổi tư tưởng". Giới rận chủ và các lều báo đang “háo hức” săn đón sự trở lại của “anh hùng bàn phím” Trương Duy Nhất. Mấy bài viết trên blog cá nhân của Nhất mới đây thấy rõ giọng điệu hằn học, xỉa xói vốn có. Bản tính ngông cuồng, ảo tưởng của Trương Duy nhất khiến con người này lại lần nữa sa ngã theo con đường cũ, tự biến mình thành kẻ bồi bút cho bọn PĐLV và các thế lực bên ngoài chống phá Việt Nam.

Tâm Ngôn

TRANG TRẦN VÀ ĐÁM DÂN CHỦ CUỘI

Ngày 24/8/2015, người mẫu Trang Trần đã bị Tòa án nhân dân Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội đưa ra xét xử với tội danh chống người thi hành công vụ. Tại phiên tòa, Trang Trần đã nộp hồ sơ bệnh án chứng minh mình đang mang thai và tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi của mình. Sau khi cân nhắc các tình tiết, tòa Tòa án nhân dân Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội tuyên Trang Trần bị xử 9 tháng tù nhưng được hưởng án treo.

Có thể nói, đây là một trong những vụ việc đình đám nhất giới showbit vừa qua chính là vụ cô người mẫu, diễn viên Trang Trần tỏ thái độ bất hợp tác, lăng mạ, xúc phạm lực lượng công an đang làm nhiệm vụ. Vụ việc xảy ra sau khi cô người mẫu này uống rượu say và ngồi trên một chiếc taxi đi vào đường ngược chiều, bị lực lượng công an giữ lại, xử lý.



Người mẫu Trang Trần

Sự việc có lẽ cũng chẳng có gì đáng nói ngoài thái độ cư xử khó có thể chấp nhận của cô người mẫu kia nếu như không có chuyện đám rận chủ như "vớ được vàng", tha hồ lao vào, mượn gió bẻ măng, té nước theo mưa để chửi chế độ, chửi đất nước, chửi Đảng cộng sản Việt Nam, chửi lực lượng thực thi pháp luật. Nào thì khi siêu mẫu gặp siêu cảnh sát, cộng sản đã hết tiền và đổi chiêu vơ vét, vụ Trang Trần công an vi phạm pháp luật trước,... 

Thậm chí, chúng còn "hảo tâm" bào chữa cho Trang Trần rằng: đó là lúc cô ấy say rượu, và lúc say thì con người ta thường làm những gì thực tâm nhất. Tức là, bọn chúng muốn mượn hành động trong lúc say của một cô người mẫu mà thái độ hung hăng, hay chửi tục đã thành một thói quen để làm minh chứng cho luận điệu xuyên tạc của chúng: người dân ghét chế độ. Thật là nực cười.

Và quả là tẽn tò cho đám rận chủ. Khi mà người trong cuộc còn chẳng biện minh cho mình thì việc làm của chúng đâm ra thừa. Không những thế, khi tỉnh rượu, Trang Trần đã công khai nhận thức được việc làm sai trái của mình và xin lỗi lực lượng công an, xin lỗi công chúng. Điều này không khác gì một gáo nước lạnh hắt thẳng vào mặt đám rận chủ. Thế là hết đường mượn cớ để tuyên truyền, xuyên tạc.

Qua vụ việc này, chúng ta thêm hiểu và khẳng định hơn nữa bản chất đặt điều, xuyên tạc, bám váy đàn bà của đám rận chủ - những kẻ lẻo mép theo kiểu nói chuyện mỏi tay, anh hùng bàn phím chuyên chọc phá, chống đối chế độ và chính quyền Việt Nam.

Mai Anh

THAY LỜI NHỮNG NGƯỜI CON CHƯA KỊP TRỌN CHỮ HIẾU MÙA VU LAN

Thái sơn cao còn thua nghĩa sinh thành,
Đông hải đại sao tày ơn dưỡng giục

Cha mẹ cho con nguồn Gen trong cốt nhục
Chúng con không thể về để báo hiếu mẹ cha
Cha mẹ đã chắt chiu giành cho con tất cả,
Vẫn giữ mãi cho con niềm hy vọng cuối cùng!




Cha Mẹ, những người cho ta sự sống – người lưu giữ, di truyền nguồn gen Ty lạp thể của tất cả chúng ta và là dấu tích lần tìm những người đã khuất! 

Đúng như câu châm ngôn mà Ông Cha ta vẫn thướng nói “Cha trời, Mẹ đất”. “Cha trời” thì vốn rộng lớn bao la. Những khi cần, cha tiếp sức. Hình ảnh cha luôn vững chãi, luôn sắn sàng tỏa sáng. Cha mãi là cây cao bóng cả che chắn cho ta. “Mẹ đất” luôn ở bên ta, rất gần và mãi gắn liền với ta, luôn ở ngay trong ta. Khi chúng ta được sinh ra từ ngay trên mặt “Đất”, cả cuộc đời ta gắn liền với đất, để rồi, khi nhắm mắt suôi tay, ta lại trở về với Mẹ đất. 

Lời đầu tiên khi ta học nói cũng chính là từ “Mẹ”, khi có niềm vui khôn tả hay nỗi đau nhức nhối, hay trước những bất hạnh tột cùng lời ta kêu lên chính là từ “Mẹ”, “Mẹ ơi”, “Ối mẹ ơi”. Ta cứ tự hỏi mình đã khi nào ta cất tiêng “Cha” trong những tình huống này không? Câu trả lời mà tất cả đều đồng thanh là hiếm và rất hiếm. Điều này không có nghĩa là ta không coi trọng Cha mình. Hình như ta chỉ goi Cha khi ta biết là ta mất cha vĩnh viễn. Nhưng Cha luôn mãi là thần tượng của mọi đứa con. Chỉ có điều, chính từ sâu thẳm trong tâm khảm của mỗi chúng ta vốn đã luôn là từ “Mẹ”. 

Ta được hình thành lớn lên trong vòng 9 tháng 10 ngày ngay trong lòng mẹ, lớn lên bằng chính bầu sữa mẹ. Chính cơ thể của mẹ đã cóp nhặt từ, chắt chiu từng chút một từ chính cơ thể Mẹ để tạo nên hình hài mỗi chúng ta, tạo nên xương cốt cho ta, rồi cũng chính mẹ luôn bên ta, nuôi ta khôn lớn. Bởi thế nên không chỉ riêng tháng bảy Vu Lan hay ngày mùng 8 tháng 3 hoặc ngày Mẹ chúng ta mới nhớ tới mẹ. Mà Trong tất cả kho từ vựng thì từ Mẹ, Má, Mạ, Mế, Bầm, Mẫu, Ma Mère, Maman, Ma my, My Mather luôn là những từ được dùng với tần xuất nhiều nhất so với tất cả những từ khác!

Dưới góc độ khoa học Gent di truyền, chỉ xét riêng với hai cấu trúc Gen là Gen Nhân và Gen Ty lạp thể: Gen tế bào Nhân là cấu trúc Gen có sự pha trộn yếu tố di truyền từ Cha, Mẹ sang con. Độ chính xác rất cao, nhưng chỉ tồn tại trong nhân tế bào với một khoảng thời gian ngắn. Bên cạnh đó, Gen Ty lạp thể chỉ của riêng những người Mẹ mới có thể truyền cho con minh và trình tự Gen ấy nằm trong từng cấu trúc xương cốt. Có thể tồn tại rất lâu với thời gian và có thể di truyền theo nguồn từ Mẹ và chỉ duy trì theo giòng Mẹ. Theo thống kê về nhân chủng học và di truyền học thế giớ thì Gen này có thể di truyền đến 50 đời. 

Bởi vậy nên xét dưới góc độ khoa học Gentist và Di truyền học, chúng ta phải thừa nhận rằng “Cha mẹ ta là những người tạo ra ta, cho ta sự sống, truyền cho ta những gì cha mẹ có trong chính nguồn Gen của mình. Rồi qua các thế hệ làm Cha, làm Mẹ tiếp nối, duy trì sự sống ấy. 

Nhưng xin tiết lộ với các bạn, người lưu trữ, di truyển, bảo quản tốt nhất dấu tích riêng biệt của mỗi chúng ta, nguồn Gen Ty lạp thể của mỗi chúng ta trong từng cấu trúc xương của mỗi người là chính là Mẹ, chính là phụ nữ. Chính là những người Bà, người Mẹ. người Chị, Người Vợ, người em gái của chúng ta! Chỉ với điều này, cả nhân loại cần biết ơn các Mẹ, biết ơn tất cả các thế hệ phụ nữ đã bao đời. Họ đã từ hàng ngàn thế hệ đã truyền nhau nắm giữ dấu tích huyết thống của chúng ta, những dấu tích riêng biệt của mỗi cá thể chúng ta. 

Nhờ có vậy mà hôm nay chúng ta có thể lần tìm theo dấu tích ấy, tìm lại được danh tính của từng cá thể bằng nguồn Gen Ty lạp thể đã được các thế hệ Mẹ bảo quản với điều kiền tốt nhất!

Không chỉ riêng ngững người đang sống trên mặt đất mà cả những người đã vĩnh viễn nằm sâu trong đất đến nửa thế kỷ như các anh hùng liệt sỹ hy sinh trên mặt trận 31 nói riêng và toàn thể hàng trục vạn liệt sỹ Việt Nam nói chung của chúng ta cùng đã nhờ vào chính những dấu tích từ nguồn Gen này để xác định lại danh tính những liệt sỹ trong những nấm mộ “LIỆT SỸ CHƯA BIẾT TÊN”.

Nhân dịp lễ Vu lan báo hiếu, xin được viết đôi dòng tỏ lòng biết ơn Cha của chúng ta - Trời của chúng ta, niềm tự hào của chúng ta. Biết ơn Mẹ của chúng ta - “Đất” của chúng ta, biết ơn các thể hệ phụ nữ của chúng ta! Dấu tích tồn tại của chúng ta, kho dữ liệu Gen của chúng ta. Phụ nữ mãi là tình yêu và niềm kính trọng của chúng ta, niềm an ủi và là cả nổi đau của chúng ta!

Hoàng Trường

Thứ Tư, 26 tháng 8, 2015

KHI BÁO CHÍ CỐ SÚY CHO TỆ NẠN XÃ HỘI

Khi mà vấn đề mại dâm đang là tệ nan làm nhức nhối xã hội kéo theo sự suy đồi đạo đức của không ít số người, làm phá hoại hạnh phúc của biết bao nhiêu gia đình, và cũng từ đó kéo theo không ít hệ lụy cho cả gia đình và xã hội do vấn nạn này gây ra.

Mới đây, trong tổng kết 10 năm thi hành Pháp lệnh phòng, chống mại dâm, lãnh đạo UBND Hà Nội vừa đề nghị Quốc hội nghiên cứu thay thế Pháp lệnh bằng Luật Phòng, chống mại dâm.

Theo đó, Hà Nội đề nghị bổ sung Điều 22 với nội dung: Tăng mức xử phạt hành chính với người mua dâm, công khai danh tính người mua dâm đến đoàn thể, chính quyền địa phương để kiểm điểm, giáo dục.



Thì trên một số mặt báo trong đó có báo giáo dục đăng ý kiến của một nhà nghiên cứu xã hội học cho rằng: "Thà để cho mại dâm hoạt động còn hơn để người ta đi hiếp dâm", hay "Công nhận mại dâm, hãy có cái nhìn công bằng!", "Công nhận mại dâm, hãy bỏ tấm áo đạo đức giả đi!" ...

Trước tiên chúng ta cần khẳng định bạn không thế lấy cái sai đế rồi từ đó biện minh cho cái sai liên tiếp. Không lẽ nạn hiếp dâm tăng cao là do chúng ta không hợp thức hóa mại dâm? Phải chăng những nước có số người bị hiếp dâm ít là do họ hợp thức hóa mại dâm? Theo một nghiên cửu thì trong những nước hợp thức hóa mại dâm thì là những nước đứng đầu về tỉ lệ tội phạm hiếp dâm nhất thế giới. Bấm link 

Nếu nói theo vị nghiên cứu kia thì chúng ta cũng nên hợp thức hóa trồng cây cần sa, ma túy xây dựng nhà máy, chế biển cung cấp cho con nghiện họ dùng khỏi phải buôn bán từ nước ngoài về. Vì ma túy nếu dùng đúng liệu lượng hợp lý chúng cũng tốt cho con người và chúng cũng có ý nghĩa trong lĩnh vực y tế nữa.

Vì vậy càng không thế lấy lý lẽ là tội phạm hiếp dâm nguyên nhân là do chúng ta không hợp thức hóa mại dâm cho nhu cầu con người.

Và càng không thế lấy lý lẽ rằng chúng ta cấm, nhưng nạn mua dâm vẫn tăng cao thì cấm không được thì thà hợp pháp hóa còn hơn? Thường trong cách quán lý của một bộ phận nhà nước khi gặp một vấn đề gì nghiêm trọng hoặc khó khăn thì một là cấm hai là cố tình hợp thức hóa,chứ không bao giờ tìm cách giải quyết. Vậy không lẽ ma túy, đề đóm, bài bạc, đá gà... dù đã cấm nhưng ko sao triệt đế được cũng sẽ hợp thức hóa sao?

Về mặt đạo đức thuần phong mỹ tục nó có thế cho phép chúng ta hợp thức hóa mại dâm hay không?

Trước tiên chúng ta cần phải hiểu rằng, văn hóa phương đông nó khác hắn văn hóa phương tây. Người Châu Âu họ có thế ăn bánh mỳ chấm bơ cả năm, nhưng người Việt mình thì không thế. Chúng ta không nên chạy theo phong trào thấy người khác làm gì là học tập bắt chước như con vẹt được.

Người nước ngoài có thế đàn ông đi ngủ với cô này cô kia là chuyện bình thường, nhưng đối với người việt đó là sự xỉ nhục, sự thiếu chung thủy không chỉ đối với bản thân với người vợ mà còn hàng xóm gia đình và bạn bè.

Truyền thống Á Đông không cho phép chúng người phụ nữ làm nghề này hay thử tượng tượng người phụ nữ làm nghề này sẽ bị xã hội khinh bỉ ra sao? Nếu biết vợ mình sắp cưới là một cô gái "bán hoa" thì thử hỏi mấy người đàn ông dám dũng cảm lấy cô ấy?

Nếu bạn là người con gái bán hoa đó có chồng đi nữa sau này có con, con hỏi mẹ làm nghề gì tôi không biết bố nó sẽ trả lời con ra sao? Khi học trong lớp giờ làm văn, đề bài "hãy miêu tả nghề nghiệp của mẹ em đã và đang làm", thì xin hỏi bạn con trẻ sẽ miêu tả thế nào nghề "gái bán hoa"?

Và tôi dám đảm bảo rất nhiều đàn ông thích đi ăn "phở" nhưng sẽ không dám lấy "phở" làm "cơm". Vậy những cô gái đó sẽ như thế nào đây? Tại sao lại hợp thức hóa nó để tạo thêm những mảnh đời bất hạnh như thế?

Về mặt pháp lý:

khi mà bán dâm đã thành một cái nghề hợp pháp,thì việc người mua dâm cũng là hợp pháp, lúc đó nếu chúng ta dựa vào luật hôn nhân như thế nào?

Lúc đó người vợ phải xem việc chồng mình đi quan hệ với người phụ nữ khác là chuyện hợp pháp hay sao?

Đó là chưa kế đến việc cơ sở hạ từng, luật pháp ý tế có đủ đế đáp ứng khi chúng ta cho hợp pháp hóa này hay không?

Xu thế thế giới:

Trên thế giới có bao nhiêu nước hợp thức hóa mại dâm? Tính ra tỉ lệ các nước hợp thức hóa mại dâm so với số quốc gia còn lại rất nhỏ bé mà thôi. Đã có trường hợp Nhiều nước khác như Thụy Điển, Na Uy đã phải quay lại biện pháp cấm triệt để mại dâm sau một thời gian cho hợp thức. Trường hợp Việt Nam cho hợp thức hóa, chắc chắn mại dâm sẽ càng biến tướng và nguy hại khôn lường, các quy định quản lý sẽ chỉ là hình thức.

Hệ lụy xã hội

Đáng lo hơn cả là về mặt đạo đức, hợp pháp mại dâm sẽ là sự đạp đổ các giá trị đạo lý gia đình, văn hóa truyền thống dân tộc, từ đó làm mất phương hướng việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, về lâu dài sẽ dẫn tới sự băng hoại đạo đức, khủng hoảng các giá trị sống ở những thế hệ tương lai.

Nếu mại dâm được coi là một nghề chân chính thì số lượng các bạn trẻ chọn con đường này để “lập nghiệp” chắc chắn sẽ gia tăng.

Nếu là nghề chân chính thì những trường hợp hành nghề đó cũng cần phải được tôn trọng. Cũng cần xét phong tặng danh hiệu anh hùng lao động, chiến sĩ thi đua cho người ta chứ. Sao nhà xã hội học đó không nói ý kiến của ông ta xem tiêu chuẩn để xét anh hùng lao động, chiến sĩ thi đua cho các cô gái bán dâm thế nào nhỉ? Một ngày tiếp bao nhiêu khách thì được phong tặng "anh hùng lao động, chiến sĩ thi đua".

Vì vậy mại dâm là điều không thể chấp nhận được về mặt hệ tư tưởng, đe dọa sự toàn vẹn của gia đình, một thiết chế xã hội rất được người Việt Nam đề cao. Mại dâm có thể gây ra nhiều vấn đề phức tạp về kinh tế, về xã hội, về sức khỏe cộng đồng như việc lây lan các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Mại dâm còn bị coi là trái với thuần phong mỹ tục của đất nước. Cả hành vi bán dâm và mua dâm đều bị coi là hành vi lệch chuẩn theo chuẩn mực văn hóa hiện nay trong xã hội.

Việc các nhà nghiên cứu các tờ báo đăng đàn biện luận cho việc hợp thức hóa mại dâm chẳng khác nào cố súy cho những tệ nạn xã hội do tội phạm này gây ra. Chẳng khác nào tiếp tay cho hình thức tội phạm ngày một biến tướng diễn biến phức tạp hơn.

Linh Nguyễn

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2015

BÀI HỌC "THỜI CƠ" NHÌN TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

Cách đây ít ngày, tại buổi gặp mặt với chủ đề “Ký ức cuộc Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội” do Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam tổ chức đúng vào chiều 19-8-2015, nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã phát biểu: “Bài học về Cách mạng tháng Tám cần tổng kết và nói kỹ, không chỉ để cho quá khứ, mà còn để vận dụng ở hiện tại và tương lai”. Có lẽ, một trong những bài học quan trọng cần được nhìn nhận là câu chuyện nắm vững thời cơ cách mạng và vận dụng nó trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Phía sau những khuyến nghị về “thời cơ” và “hiểm họa”


Một “người trong cuộc” của cách mạng tháng Tám năm nay đã ở tuổi 95 là Đại tướng Lê Đức Anh, người từng chỉ huy cuộc khởi nghĩa ở Lộc Ninh (Bình Phước) khi được hỏi về điều tâm đắc nhất đã nói: "Bài học về chọn thời cơ, chớp thời cơ của Cách mạng Tháng Tám là bài học kinh nghiệm sâu sắc trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của tôi. Thời điểm đó, nếu ta phát lệnh khởi nghĩa sớm hơn cũng không được mà chậm hơn cũng không được”. Theo Đại tướng Lê Đức Anh, thành công của Cách mạng Tháng Tám đã nêu lên một mẫu mực về vấn đề tận dụng thời cơ, cơ hội thuận lợi mà quá trình cách mạng đã tạo ra.Trong sự nghiệp đổi mới đất nước và cho đến ngày nay, giá trị chính trị, lý luận và thực tiễn đó đã được Đảng ta vận dụng một cách triệt để.

Thế nhưng, với cách nhìn phiến diện hoặc xét lại lịch sử, gần đây, lại có những ý kiến cho rằng, Đảng, Nhà nước ta chưa thấy hết được “thời cơ vàng” và “hiểm họa đen” nên đất nước chưa thể hóa “Rồng” như một số quốc gia khác đã giành độc lập, thoát khỏi chiến tranh sau mấy chục năm. Ở một khía cạnh khác, họ lại cho rằng, chúng ta không lường hết được “hiểm họa”, thụ động, hèn nhát trước những nguy cơ đe dọa chủ quyền lãnh thổ. Họ đòi hỏi phải “cứng rắn”, “đứng lên”, “liên minh” này nọ. Đã xuất hiện những quan điểm, cách nhìn một phía, thiển cận, mơ hồ về đối tượng, đối tác, thời cơ, nguy cơ. Góp ý cho chiến lược của Đảng trước một kỳ Đại hội Đảng gần đây, có người khuyến nghị những điều tưởng như tâm huyết về “Tổ quốc trước hai hiểm họa”, nghe có vẻ bắt được nhịp thời đại nhưng tìm hiểu kỹ lại là một sách lược cực đoan, mù quáng. Để nắm thời cơ, xóa hai hiểm họa, theo ông ta, về đối nội phải xóa bỏ chế độ XHCN còn về đối ngoại phải tìm đồng minh chiến lược mới với các nước tư bản. Với tư duy thầy bói xem voi, thấy cây mà không thấy rừng, không ít “nhà dân chủ” khác nhân dịp chuẩn bị Đại hội XII của Đảng cũng đang vẽ ra những con đường “đổi mới” nào là “lần 1, lần 2, lần 3” mà thực chất là kêu gọi thay đổi thể chế chính trị, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.

Cẩn trọng trước cái gọi là “thời cơ vàng”

Bài học chớp thời cơ của cách mạng tháng Tám không phải là bài học của sự phiêu lưu, liều lĩnh. Đúng như Đại tướng Lê Đức Anh nói nếu muốn khởi nghĩa sớm hơn cũng không được mà muộn hơn cũng không xong. Nên nhìn nhận bài học xử lý thời cơ từ chính những người đứng đầu khởi nghĩa ở Nam Bộ như Giáo sư Trần Văn Giàu. Bài viết “Những điều ít biết về khởi nghĩa ở Nam Bộ” đăng trên Báo Quân đội nhân dân ngày 19-8-2015 cho biết, Xứ ủy Nam Kỳ đã 3 lần họp bàn tính thời điểm khởi nghĩa và nhận thấy khong thể manh động khi quân Nhật ở Sài Gòn còn quá đông. 

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời Việt Nam, trịnh trọng đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ảnh: Tư liệu - TTXVN
Trong giai đoạn đổi mới hiện nay cũng vậy, không thể “đốt cháy giai đoạn”. Phê phán quan điểm mơ hồ, ảo tưởng khi cho rằng "chúng ta lần đầu tiên trong hai thế kỷ không có kẻ thù chiến lược", trừ phi "chúng ta tự chuốc lấy kẻ thù cho mình’, đây là thời cơ vàng mà nếu bỏ lỡ là lỗi của chúng ta”, GS Trần Thanh Đạm, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, một trí thức trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp từng thẳng thắn coi quan điểm này là những mũi tên ngầm có tẩm thuốc độc bên trong. “ Trong cái lời lẽ rổn rảng ca ngợi thời cơ vàng là các luận điểm chủ quan như: Việt Nam hiện nay không có kẻ thù chiến lược; không nên tự chuốc kẻ thù cho mình. Các cường quốc ngày nay hình như chỉ làm điều tốt lành cho thế giới và cho Việt Nam. Hoa Kỳ hình như không hề bao vây, cấm vận để bóp nghẹt Việt Nam mà đã tạo những thời cơ để Việt Nam ký hiệp định thương mại nhưng Viêt Nam đã mấy lần bỏ lỡ nhịp. Hình như mọi tiến bộ và thành công của chúng ta trong việc cải thiện môi trường quốc tế, quan hệ đối ngoại của chúng ta không phải do cuộc đấu tranh kiên quyết, kiên trì của chúng ta, không phải do thế và lực của Việt Nam về nhiều mặt đã tốt lên, mạnh thêm mà là do thiện chí của các cường quốc luôn luôn ban cho chúng ta, còn chúng ta thì vì "lập trường" nên không biết lợi dụng và tiếp nhận đầy đủ các ân huệ đó v.v... Rõ ràng đó là những nhận định rất chủ quan và phiến diện về tình hình quốc tế và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta”. 

Những người hồn nhiên cổ súy cho những “thời cơ vàng” từ bên ngoài có lẽ nên hiểu câu châm ngôn không có bữa tiệc nào miễn phí và cũng nên đọc cuốn sách “Chiến tranh tiền tệ” của tác giả Song Hong Binh. TS Đinh Thế Hiển, Giám đốc Viện nghiên cứu Tin học và kinh tế ứng dụng khi viết lời tựa cho cuốn sách này đã nhận xét: Cho đến khi đọc cuốn sách “Chiến tranh tiền tệ”, chúng ta mới chợt giật mình nhận ra một điều kinh khủng rằng, đằng sau những tờ giấy bạc chúng ta chi tiêu hàng ngày là cả một thế lực ngầm đáng sợ - một thế lực bí ẩn với quyền lực siêu nhiên có thể điều khiển cả thế giới rộng lớn này…Đó là một cuộc chiến mà đồng tiền là súng đạn và mức sát thương thật là ghê gớm. “Chiến tranh tiền tệ” giúp chúng ta hiểu nhiều điều như Bill Gates chưa phải là người giàu nhất hành tinh, vì sao phố Wall lại mạo hiểm đổ hết vốn liếng của mình cho việc “đầu tư” vào… Hitler. 

Không nên ảo tưởng, mơ hồ khi có trong tay cuộc sống hòa bình hôm nay. Nên nhớ tới thông điệp Tổng thống Mỹ Ri-gân, một người có nhiều sách lược chống cộng sản từng đưa ra: “Chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho hòa bình là ngàn năm đen tối cho các thế hệ sinh tại Việt Nam về sau. Tôi và bạn đều biết hòa bình dù có đẹp cách mấy cũng không có ý nghĩa gì nếu nó được mua với cái giá gông cùm và nô lệ”. Sự thật sau những lời mỹ miều ấy được bóc trần khi Ri-gân tuyên bố: “Chúng ta nên làm gì để có được hòa bình? Chỉ một cách, rất đơn giản. Có một ý nghĩa trong câu nói của Barry Goldwater: “Hòa bình qua sức mạnh.”

Không thể nhân danh thời cơ vàng để đề nghị Đảng cưỡi một con ngựa không cương hay cầm lái một chiếc xe không phanh chỉ để tăng trưởng kinh tế thật nhanh. Không thể thay đổi thể chế và đường lối kinh tế tùy tiện để rồi đánh mất độc lập, tự chủ; mất ổn định chính trị, đa nguyên, đa đảng…sẽ chỉ tạo đất cho những vòi bạch tuộc ngoại bang. Ngược lại, chính hòa bình, ổn định mới là điều kiện hàng đầu cho sự phát triển. Những bài học từ sự bất ổn trên chính trường Thái Lan gần đây cho thêm chúng ta những bài học quý về giữ gìn hòa bình và ổn định để phát triển đất nước. Nhìn từ bài học đau xót của Liên Xô, nhà cách mạng Fidel Castro đã gọi sự sụp đổ của Liên Xô là cuộc tự sát của cách mạng, bởi vì họ đã trở thành nạn nhân của chủ nghĩa cơ hội từ bên trong. Chúng ta cần hết sức cảnh giác đối với những xu hướng cơ hội, xét lại về chính trị, nhất là trong bối cảnh hoạch định đường lối chiến lược trước thềm Đại hội XII của Đảng hiện nay.

Không một phút xao nhãng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc

Nhận thức thời cơ và nguy cơ luôn là vấn đề quan trọng hàng đầu của Đảng trong lãnh đạo cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: “Lạc nước hai xe đành bỏ phí/ Gặp thời một tốt cũng thành công”. Nhưng nhận thức thời cơ và nguy cơ phải trên quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển. Đánh giá thời cơ và nguy cơ với Đảng ta luôn phải xuất phát từ hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Dựng nước phải đi đôi với giữ nước. Trong điều kiện hòa bình, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm song không vì thế mà xem nhẹ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Xin được nêu một bài học từ chính quốc đảo Xin-ga-po. Ông Lý Quang Diệu, trong cuốn sách “ Bí quyết hóa Rồng” đã chia sẻ kinh nghiệm: Ngay sau khi tuyên bố độc lập, một trong những nhiệm vụ hàng đầu ông ưu tiên là phải bảo vệ đất nước, xây dựng quân đội, mua sắm vũ khí. “Mối quan tâm kế tiếp của tôi là phải bảo vệ đất nước này. Chúng tôi phải làm thế nào để nhanh chóng xây dựng một số lực lượng phòng thủ, cho dù chỉ mới là bước đầu? Chúng tôi phải làm nhụt chí, và nếu cần thì ngăn chặn bất kỳ hành động điên cuồng nào của những kẻ quá khích”. 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, “vị tướng của hòa bình” cũng để lại cho chúng ta bài học quý về sự cảnh giác khi chúng ta được yên ấm trong cuộc sống hòa bình. Trả lời phỏng vấn nhà báo Pháp nhân kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, khi được hỏi về việc Việt Nam cần làm gì khi đã hòa bình, xung đột đã chuyển sang các lục địa khác, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Chúng ta đang phải đối mặt với một tình hình thế giới khó khăn và chưa biết điều gì sẽ xảy ra. Hiện nay, người ta đang nói nhiều về các cuộc chiến tranh phòng ngừa, hạnh phúc của nhân dân bị áp đặt bằng vũ lực hoặc bằng các quy luật thị trường. Chúng ta không thể dự đoán những gì có thể xảy ra... Giới trẻ phải học cách trân trọng giá trị của hòa bình…”..

Bài học từ cách mạng tháng Tám cũng cho thấy, chớp thời cơ, ít đổ máu để đi tới thành công không đồng nghĩa với “tay không bắt giặc” mà phải gắn liền với xây dựng lực lượng, chuẩn bị cách mạng qua nhiều cao trào lớn để tạo ra sức mạnh vật chất thực sự. Chiếc nỏ thần bảo vệ Tổ quốc chính là sức mạnh nội sinh của Tổ quốc. Mà sức mạnh quốc phòng chỉ có được khi có sức mạnh kinh tế, khi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thành công. Để bảo vệ Tổ quốc có nhiều việc phải làm nhưng Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đã vạch ra những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo về bảo vệ Tổ quốc rất xác đáng, đó là: Giữ vững sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, không ngừng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích cao nhất của đất nước; đồng thời luôn nêu cao cảnh giác, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, xâm lược của các thế lực thù địch; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc...

Nguồn: Nguyễn Văn Minh - QĐND

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 CHIẾN THẮNG VĨ ĐẠI CỦA DÂN TỘC

Cách mạng Tháng Tám 1945 là một biến động chính trị to lớn, có ý nghĩa trọng đại trong tiến trình lịch sử dân tộc, cuộc cách mạng vĩ đại ấy đã giải quyết thành dông hai nhiệm vụ trọng đại, đó là giải phóng dân tộc và lật đổ chế độ phong kiến, như Bác Hồ đã viết trong bản Tuyên ngô Độc lập: "Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa...".


Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945

Sau hơn 80 năm rên xiết dưới ách thống trị thuộc địa tàn bạo của bọn đế quốc thực dân, kể từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta năm 1858, không can chịu ách đô hộ của bọn đế quốc và phong kiến, nhân dân ta đã nhiều lần nổi dậy đấu tranh, các cuộc đấu tranh, phong trào cách mạng diễn ra sôi nổi và mạnh mẽ, nhất là từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với đường lối cách mạng vô sản tiên tiến và phù hợp, sau 15 năm đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng, năm 1945, chớp thời cơ "Pháp chạy, Nhật hàng" ngàn năm có một, Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh thông qua Mặt trận Việt Manh đã lãnh đạo, hiệu triệu toàn thể dân tộc đứng lên Tổng khởi nghĩa, lật đổ chế độ phong kiến- thuộc địa, giành chính quyền về tay nhân dân. Cách mạng Tháng Tám thành công đã mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập, tự do. Trong đó độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Những thành quả của cách mạng Tháng Tám đã tạo tiền để cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc sau này đi đến thắng lợi

Chế độ Phong kiến Việt Nam được bắt đầu từ thế kỷ thứ X, trong tiến trình lịch sử của đất nước, các triều đại phong kiến đã đẻ lại nhiều thành tựu và cống hiến to lớn với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhưng càng về sau, với sự phát triển của xã hội, chế độ phong kiến càng tỏ ra lạc hậu, lỗi thời, trì trệ, bảo thủ và cản trở tiến trình phát triển của xã hội. Phong kiến Việt Nam bắt đầu rơi vào khủng hoảng từ thế kỉ 16 (thời Lê-Mạc), đến đời Nhà Nguyễn, nhà nước phong kiến ngày càng mâu thuẫn sâu sắc với nhân dân lao động, chính sách thống trị và bóp lột hà khắc đã gây nên sự phản kháng ngày càng mạnh mẽ trong nhân dân, các cuộc khởi nghĩa nổ ra quyết liệt. Trong quá trình thực dân Pháp xâm lược, chính quyền nhà nước Phong kiến hoàn toàn bất lực trong việc bảo vệ đất nước, thậm chí triều đình Huế còn câu kết làm tay sai cho thực dân Pháp, góp phần thiết lập và củng cố chế độ thuộc địa trên toàn cõi Việt Nam, biến nước ta từ một nước độc lập thành nước nửa thực dân, nửa phong kiến, đó là nguyên nhân khiến cho các cuộc khởi nghĩa cũng như phong trào đấu tranh sau này của nhân dân ta mang đặc điểm chung là vừa chống thực dân, vừa chống phong kiến, trong đó các phong trào cách mạng do Đảng cộng sản lãnh đạo cũng không nằm ngoài xu thế chung ấy, đường lối cách mạng của Đảng trong các thời kỳ từ 1930-1945 đã khẳng định và nhấn mạnh hai nhiệm vụ có quan hệ khăng khít, liên quan lẫn nhau, đó là vừa chống đế quốc, vừa chống phong kiến. Cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 do Đảng cộng sản lãnh đạo cũng nhằm thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ trên, trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, lực lượng cách mạng đã đánh đổ ách thống trị thuộc địa của Pháp- Nhật lẫn chế độ quân chủ đã tồn tại ở Việt Nam, vừa giành độc lập dân tộc, vừa mang lại tự do cho toàn thể nhân dân.

Trong lịch sử thế giới, hiếm có nước nào, lực lượng nào làm cách mạng mà đồng thời giải quyết thành công liền hai nhiệm vụ trọng đại, cuộc cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam là một điển hình của hình thức cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc, sánh ngang Cách mạng Mĩ (1776), vừa thể hiện sâu sắc tinh thần chống chế độ phong kiến, quân chủ lạc hậu, lại thành lập nên chế độ dân chủ cộng hòa, đó cũng là tinh thần chung của Cách mạng tư sản Pháp (1789). Bởi vậy không ngẫu nhiên khi chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn liền nội dung của cả hai bản tuyên ngôn Độc lập của Mĩ, tuyên ngôn nhân quyền của Pháp trong Bản Tuyên ngôn Độc lập do chính Người soạn thảo và tuyên đọc.

Hoàng Trường

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2015

TÍNH CHÍNH DANH CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

Kỷ niệm 70 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam, trong khi toàn dân tộc tưng bừng hân hoan tổ chức các hoạt động chào mừng, thì một nhúm những kẻ vong nô ở hải ngoại và cả trong nước lại tiếp tục chiêu bài cũ rích, tung ra luận điệu xét lại "tính chính danh của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà". Những việc làm lạc lõng đó lại vẫn được các phương tiện truyền thông thù địch với Việt Nam hà hơi tiếp sức, cho rằng Chính phủ Hồ Chí Minh là chính phủ ...bất hợp pháp, cướp chính quyền từ Chính phủ "hợp hiến" Trần Trọng Kim, và cho rằng thực chất Việt Nam đã có độc lập từ trước, do quân phiệt Nhật "trao trả", Việt Minh "cướp công" của Bảo Đại - Trần Trọng Kim.

Chào mừng kỷ niệm 70 năm Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam


Vậy sự thật là như thế nào?

Thực ra, chữ “độc lập” mà phát xít Nhật ra lệnh cho Quốc Trưởng Bảo Đại tuyên bố vào ngày 11-3-1945, chỉ là thứ độc lập giả hiệu. Đơn giản vì một chính phủ không có quân đội để lo việc quốc phòng, không có cảnh sát để ổn định xã hội, cũng không có tiền trong tay, lãnh lương từ Nhật. Một chính phủ chìm nổi với Nhật, Nhật thua thì chính phủ cũng dẹp tiệm, dù cho các thành phần trong chính phủ có tâm với đất nước thực sự hay không, có là rồng hay phượng, trí thức hay ngu dốt, sang hay hèn, cũng không bao giờ có thể là "độc lập, tự do" thực sự.

Thứ "độc lập" bố thí, không phải do nhân dân đấu tranh mà giành lấy, thì không bao giờ có giá trị và cả thế giới không ai công nhận cái độc lập giả đó cả, chỉ có một số người theo chủ trương há miệng chờ sung và cho rằng "không cần tranh đấu thì rốt cuộc cũng được độc lập" mới có thể nói mà không hề biết ngượng ngùng.

Sau thời gian cùng đè đầu cưỡi cổ nhân dân Việt Nam, hai tên cướp diệt nhau, ngày 9/3/1945 Nhật nổ súng hất cẳng Pháp, tuyên bố "trả lại quyền tự quyết cho Việt Nam từ tay Pháp" nhưng vẫn nắm chặt binh quyền và tiền ngân khố, chỉ cho phép chính quyền tay sai làm một số việc hành chính phục vụ cho chính quân Nhật, làm gì cũng phải xin phép, sinh mệnh đất nước vẫn nằm trọn trong tay Nhật, thì chính quyền Trần Trọng Kim rõ ràng không có khả năng để tự tồn tại, làm sao có thể gọi là độc lập, tự do khi ngay cả việc chuyển gạo từ miền Nam ra để cứu đói cho dân cũng không thể làm vì Nhật không cho phép. Những gì chính quyền đó có thể làm chỉ là xây lâu đài xây trên cát, là anh thợ làm thuê được cho cái bánh vẽ, rồi cặm cụi vẽ thêm hoa lá lên đó rồi tự ngồi để ảo tưởng...

Độc lập, muốn có được bao giờ cũng phải là do đấu tranh của nhân dân, đổ mồ hôi nước mắt và máu xương qua nhiều năm tháng mới có được. Lập nên chính quyền phải có thực lực, có quân đội và có lòng dân - đó mới là thứ độc lập có thật, nền độc lập đó phải được nhân dân ủng hộ và sẵn sàng tiếp tục đoàn kết bảo vệ, có như vậy chính quyền mới có thể đứng vững.

Năm 1945, cả hai ông Bảo Đại và Trần Trọng Kim đều biết rõ, người Nhật sử dụng họ để làm những việc mà họ ra lệnh, chứ họ không thể làm những việc mà người Nhật không cho phép làm. Số phận về quyền lực cũng như quyền hạn mà họ được người Nhật trao cho để thành lâp chính phủ chỉ có thể tồn tại với sự tồn tại của người Nhật ở Đông Dương mà thôi.

Ngay sau khi phe Đồng Minh gửi tối hậu thư cho quân Nhật ngày 26/7/1945 thì Trần Trọng Kim đã vội vã đệ đơn xin từ chức ngày 5/8/1945, được Bảo Đại chấp nhận vào ngày 6/8/1945. Tính ra nội các Trần Trọng Kim tồn tại vỏn vẹn 3 tháng 18 ngày. (17/4/1945-6/8/1945), chìm xuồng cùng với quyền lực của người Nhật ở Việt Nam.

Về cá nhân Trần Trọng Kim và cái gọi là chính phủ của ông ta:

Trần Trọng Kim sinh ngày 1/1/1883 tại Hà Tĩnh, qua đời ngày 2/12/1953, thọ 70 tuổi. Khởi đầu, được huấn luyện làm nghề thông ngôn, tốt nghiệp năm 1903, và hành nghề này cho chính quyền Bảo Hộ Pháp ở Bắc Kỳ. Năm 1908, được học bổng của Trường Thuộc Địa theo học ngành sư phạm rồi hành nghề dạy học. Năm 1942, được bổ làm thanh tra tiểu học. Đến 15/4/1945 được Bảo Đại cho làm Thủ tướng chính phủ sau khi Nhật đảo chính Pháp và cho phép Bảo Đại tuyên bố độc lập (11/3/1945).

Nội Các Trần Trọng Kim đã tuyên cáo với quốc dân rằng, 'Muốn giữ vững nền độc lập, “quốc dân ta phải gắng sức làm việc, chịu nhiều hy sinh hơn nữa và phải thành thực hợp tác với nước Đại Nhật Bản trong sự kiến thiết nền Đại Đông Á, vì cuộc thinh vượng chung của Đại Đông Á có thành thì sự độc lập của nước ta mới không phải là giấc mộng thoáng qua."

Nội Các Trần Trọng Kim cũng nhận định: “Hiện nay thế giới còn ở trong vòng chiến tranh, công việc kiến thiết quốc gia còn gặp nhiều khó khăn. Lại vì bom đạn của quân địch (Quân Đồng Minh) đang tàn phá làm cản trở sự lưu thông, khiến cho mấy mươi vạn người sinh trưởng trên khoảng đất phì nhiêu mà đành phải chết đói"..

Rõ ràng, với tuyên bố "nước Đại Nhật Bản” và việc gọi phe Đồng Minh là “quân địch” như trên, Trần Trọng Kim và nội các của ông ta đã tự xác định rằng họ đứng trong hàng ngũ của phe phát xít trong việc phân chia trận tuyến của cuộc Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai.

Như vậy, Nội Các Trần Trọng Kim chỉ có thể coi là đã đóng trọn vai trò của một chính phủ bù nhìn thụ động, tuy không có tội ác nhưng cũngkhông có công tích gì đặc biệt đối với dân tộc cũng như với cả quan thày Nhật. Đây là điều khác biệt căn bản giữa Nội Các Trần Trọng Kim với một số chính phù bù nhìn, tay sai đắc lực của Nhật như Chính Phủ Ba Maw ở Myanmar, Chính Phủ Laurel ở Philippines hay Chính Phủ Uông Tinh Vệ ở Trung Quốc.

Một số ý kiến đánh giá về vai trò của chính phủ Trần Trọng Kim:

Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng: 
"Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập sau khi Nhật Bản lật đổ chính quyền thuộc địa Pháp tại Đông Dương vào ngày 9 tháng 3, 1945 và tuyên bố trả độc lập cho Việt Nam. Nhưng vì độc lập mà Nhật gọi là trao trả cho Việt Nam rất là giới hạn thành ra việc thành lập chính phủ cũng bị rất nhiều trở ngại. Phải mất trên một tháng từ khi ông Bảo Đại ra tuyên ngôn tuyên bố độc lập vào ngày 11 tháng 3 cho đến ngày 15 tháng tư mới thành lập được chính phủ. Đó là vì Nhật không chịu bất kỳ những nhà chính trị nào dù là thân Nhật mà họ cho rằng có thể có những ước vọng độc lập nhiều hơn là Nhật dành cho.
Với an ninh, quốc phòng và kinh tế tài chánh đều nằm trong tay quân đội Nhật, tất cả những gì mà chính phủ Trần Trọng Kim có thể đạt được trong việc giành lại chủ quyền cho Việt Nam thực tế là chỉ có tính cách biểu tượng".

 Ông Phan Anh, Bộ trưởng Bộ Thanh niên:
"Lấy tư cách là thành viên của chính phủ Trần Trọng Kim, tôi nói với ông rằng chúng tôi tuyệt đối không có ảo vọng gì về người Nhật. Tình thế đã dứt khoát rồi. Phải là kẻ điên mới đi hợp tác với Nhật. Có những người điên, nhưng chúng tôi là trí thức, chúng tôi tham gia chính phủ là để phụng sự. Chính với chính sách ấy mà chúng tôi đã thành lập chính phủ với khẩu hiệu như vừa nói là: Đuổi cổ bọn Pháp và nắm lấy độc lập.... 
Chính phủ Trần Trọng Kim với tất cả bộ trưởng cùng theo đuổi một mục đích như tôi; đã tự vạch ra đường lối chung cho mình mà tôi vừa phác lại để ông thấy rõ. Chính phủ ấy khi ra đời đã tự coi như một mắt xích lâm thời, tôi có thể nói hẳn ra là, theo tôi nhận định, như một công cụ phục vụ cho sự nghiệp giành độc lập. Chúng tôi đã tự coi không phải là những người' lãnh đạo phong trào, lãnh đạo đất nước, mà là những công cụ, những tay chân của công cuộc đấu tranh dân tộc. Và do đó sự chuyển tiếp từ chính phủ Trần Trọng Kim đến nền cộng hòa trong Cách mạng tháng Tám diễn ra một cách tự nhiên suôn sẻ nữa cơ. Tôi có thể nói với ông rằng với tư cách bộ trưởng, chúng tôi trăm phần trăm ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tất cả, kể cả Thủ tướng Trần Trọng Kim. Đã có sự nhất trí toàn vẹn, sâu sắc về sự chuyển tiếp ấy."
Nhà sử học, giáo sư Đinh Xuân Lâm

Về phía Nhật Bản, chúng cũng nhanh chóng tìm cách nắm chắc bộ máy cầm quyền "bản xứ" do người Pháp lập ra trước đó, và nay đã hoang mang dao động trước vụ Nhật đảo chính Pháp. Chúng bày trò "trao trả độc lập" để làm áp lực buộc vua Bảo Đại ký đạo Dụ số 1 "cải tổ bộ máy triều đình cho phù hợp với tình hình mới". Ngày 19 - 3, viện Cơ mật mới được thành lập trước đó (6-3) do Phạm Quỳnh đứng đầu xin từ chức, Nhật đưa Trần Trọng Kim từ Băng Cốc (Thái Lan) về Sài Gòn, rồi ra Huế gặp Bảo Đại và nhận đứng ra lập nội các mới. Ngày 17/4, nội các Trần Trọng Kim ra mắt. Ngày 4/5, nội các họp phiên đầu tiên, ngày 8/5 bệ kiến Bảo Đại và ra tuyên cáo chính thức. Nội các Trần Trọng Kim với thành phần là những trí thức có tên tuổi - trong số đó phải kể tới một số nhân vật tiêu biểu của nước ta trước năm 1945, có uy tín đối với nhân dân, như Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn, Trịnh Đình Thảo, Phan Anh,…họ đều là giáo sư, luật gia, nhà báo chưa hề dính líu với bộ máy quan trường, trước đó lại từng có nhiều hoạt động thể hiện có tư tưởng yêu nước, có tinh thần dân tộc nên được nhiều người ngưỡng mộ - cũng đã làm cho một bộ phận nhân dân có phần tin tưởng, đặt hy vọng vào. 
Thủ đoạn của bọn cầm quyền Nhật là triệt để lợi dụng bộ máy chính quyền do chúng mới dựng lên để lũng đoạn tình hình có lợi cho chúng, chúng chỉ muốn có một chính phủ bù nhìn hoàn toàn để thi hành mọi ý định của chúng".

Trong thư viết ngày 8/5/1947 tại Sài Gòn gửi học giả Hoàng Xuân Hãn, ông Trần Trọng Kim nói về tình hình chính trị của Đế quốc Việt Nam năm 1945 và vai trò tiếp quản của Việt Minh như sau:

"Còn về phương diện người mình, thì tôi thấy không có gì đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng nhăng chẳng đâu vào đâu cả. Ai cũng nói vì lòng ái quốc, nhưng cái lòng ái quốc của họ chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa vị và quyền lợi, thành ra tranh giành nhau, nghi kỵ nhau rồi lăng mạ lẫn nhau... Tôi thấy tình thế có nhiều nỗi khó khăn quá, mà mình thì thân cô thế cô, không làm gì được, cho nên chỉ giữ cái địa vị bàng quan mà thôi... Tôi vẫn biết việc chống Pháp chỉ có Việt Minh mới làm nổi... Nay Việt Minh đứng vào cái địa vị chống Pháp, tất là có cái thanh thế rất mạnh ..".
Còn với Bảo Đại, chiều ngày 25/8/1945, đã đọc chiếu thoái vị nêu rõ: 
"Riêng về phần Trẫm, trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm đã trải qua bao nhiêu cay đắng. Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị. Từ nay Trẫm lấy làm sung sướng được là Dân tự do, trong một nước độc lập. Trẫm không để cho bất cứ ai được lợi dụng danh nghĩa Trẫm, hay danh nghĩa hoàng gia để gieo rắc sự chia rẽ trong đồng bào của chúng ta.
Việt Nam độc lập muôn năm!
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muôn năm!"
Từ những điều trên, cho thấy rõ ràng trong Cách mạng tháng Tám, quần chúng lao động và các lực lượng đảng phái tập hợp dưới ngọn cờ của Mặt trận Việt Minh đã giành chính quyền về tay nhân dân từ tay phát xít Nhật chứ hoàn toàn không phải từ tay chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim, mà thực tế lúc này chính phủ đó cũng đã tê liệt, không còn tồn tại với sự từ chức của Trần Trọng Kim.

Về Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà của Hồ Chí Minh

Đích đến của bất cứ một cuộc cách mạng nào cũng là lật đổ chính quyền của giai cấp thống trị, thiết lập chính quyền mới tiến bộ hơn của giai cấp bị trị. Chính cương vắn tắt của Đảng Cộng sản năm 1930 đưa ra mô hình “Dựng ra Chính phủ công nông binh”. Tháng 5/1941, Hội nghị lần thứ Tám BCHTW chủ trương: “không nên nói công nông liên hiệp và lập chính quyền Xô viết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập Chính phủ Dân chủ cộng hòa”.

Ngày 17/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào đi đến quyết định lịch sử: Phát động tổng khởi nghĩa, thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam. Ủy ban này làm chức năng của Chính phủ lâm thời ngay sau Cách mạng tháng Tám thắng lợi tại Hà Nội (19/8/1945). Đây là quyết định rất sáng suốt và kịp thời trong tình hình đất nước và thế giới có nhiều sự kiện đang diễn ra hết sức mau lẹ.

Chiều ngày 2/9/1945, tại Vườn hoa Ba Đình – Hà Nội (Quảng trường Ba Đình – Hà Nội), các thành viên của Chính phủ lâm thời có mặt trên lễ đài. Thành phần Chính phủ bao gồm đại biểu các tầng lớp nhân dân, gần một nửa số bộ trưởng là nhân sĩ, trí thức không đảng phái, một số cán bộ Đảng và Việt minh đã tự nguyện rút khỏi danh sách Chính phủ. Chủ tịch Hồ chí Minh, thay mặt Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khẳng định: “Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ cộng hòa”. Người trịnh trọng tuyên bố với thế giới “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Ngày 3/9/1945, phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày sáu vấn đề cấp bách nhất cần tập trung giải quyết để đưa nước nhà ra khỏi hiểm nguy: "Một là, giải quyết nạn đói; hai là, thanh toán nạn dốt; ba là, tổ chức tổng tuyển cử; bốn là, giáo dục lại nhân dân theo tinh thần cần, kiệm, liêm chính; năm là bỏ ngay các thứ thuế bóc lột vô nhân đạo; sáu là, thực hiện tự do tín ngưỡng, lương giáo đoàn kết.".

Dưới sự điều hành của Chính phủ lâm thời, cả nước hăng hái hưởng ứng phong trào diệt “giặc đói” và “giặc dốt”. Nhân dân cả nước, nhất là ở các thành phố, còn hăng hái đóng góp vào Quỹ độc lập, Quỹ đảm phụ quốc phòng để xây dựng nền tài chính quốc gia và ngân sách quốc phòng.

Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước ta được tổ chức trên cả nước ngày 6/1/1946, bất chấp bom đạn của thực dân Pháp ở miền Nam và những hành động phá hoại của bọn phản động ở miền Bắc, có 333 đại biểu được bầu. Kỳ họp đầu tiên của Quốc hội ngày 2/3/1946 chấp nhận thêm 70 đại biểu của Việt Quốc Việt Cách không qua bầu cử, nhất trí đề nghị Người thành lập Chính phủ mới và Người đã đệ trình Quốc hội chuẩn y danh sách thành viên Chính phủ liên hiệp kháng chiến.

Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngay từ khi còn non trẻ đã thể hiện là một Nhà nước kiểu mới trong lịch sử dân tộc, có thành phần tham gia rộng rãi nhất của các giai tầng xã hội và khác hẳn với nền cộng hòa dân chủ sau cách mạng tư sản ở các nước phương Tây.

Sự chính danh là ở chỗ đó đấy!

Và nay, chúng ta đang nỗ lực hoàn thiện luật pháp, cơ chế để xây dựng Nhà nước pháp quyền nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, của dân, do dân, vì dân!

Hùng Mạnh

XUYÊN TẠC, BÓP MÉO CÁCH MẠNG THÁNG 8/1945 LÀ MỘT TÔI ÁC!

Trong khi người dân khắp nơi trên cả nước nô nức, hân hoan tiến hành các hoạt động kỷ niệm 70 năm cách mạng tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2015) - một sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc, thì đâu đó vẫn có những kẻ mang dã tâm phá hoại, xuyên tạc lịch sử phục vụ mưu đồ xấu xa và đen tối của mình.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nhân dân ta đã đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân, đế quốc trong gần một thế kỷ, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, không có tên trên bản đồ thế giới Việt Nam đã trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ, có tên trên bản đồ thế giới. Đó là một sự kiện trọng đại trong lịch sử dân tộc.

Cách mạng tháng Tám thành công không phải tự nhiên mà có, đó là sự kết tinh của sức mạnh dân tộc, sức mạnh thời đại, sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, là biểu hiện rõ nét nhất của tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc, sự đoàn kết thống nhất trong nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thắng lợi của cuộc cách mạng này là thắng lợi của sự chủ động chuẩn bị lực lượng, của nghệ thuật tạo thời cơ, chớp thời cơ và kiên quyết hành động.

Thành công của Cách mạng tháng Tám không phải là giành "khoảng trống quyền lực", không phải đến một cách ngẫu nhiên, tự nhiên mà có chính quyền, mà là kết quả của quá trình chuẩn bị mọi mặt của Đảng từ tổ chức, xây dựng lực lượng chính trị, vũ trang đến chủ động đón thời cơ khi phát xít Nhật đầu hàng đồng minh, khi quân đội Pháp bạc nhược.

Thắng lợi của cách mạng tháng Tám không chỉ được nhân dân và lịch sử dân tộc ta thừa nhận là một trong những mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam mà các dân tộc bị áp bức, nhân dân lao động trên toàn thế giới cũng có thể tự hào vì lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc.

Thế nhưng, đâu đó vẫn có những kẻ mang dã tâm xấu xa, thâm độc, ngấm ngầm xuyên tạc sự kiện lịch sử trọng đại này nhằm phục vụ cho những mưu đồ đen tối. Mới đây, trong một bài viết có tên “Nhìn lại cách mạng tháng Tám” trên BBC, Trương Nhân Tuấn - một kẻ vong ân bội nghĩa đã xuyên tạc rằng, “Thực chất cuộc chạy đua giành chính quyền là Việt Minh lợi dụng khoảng trống quyền lực sau khi Nhật đầu hàng để nắm lấy chính quyền, hy vọng đặt Đồng Minh vào sự đã rồi”. Việc “Hai mươi triệu nhân dân ta nhất tề vùng dậy” cũng chỉ là điều tưởng tượng. Nói 20 triệu người nhất tề vùng dậy là điều hoang đường, không thuyết phục được ai hết.

Trong khi đó, trong bài viết “Trả sự thật lại cho nhân dân và lịch sử”, kẻ có tên Đại Nghĩa đã hỗn láo xuyên tạc rằng, “70 năm nay cộng sản Việt Nam đã đánh tráo lịch sử ngày độc lập của Tổ quốc. Ngày 2-9-1945 chỉ là ngày cộng sản ăn cướp chính quyền từ một chính phủ hợp pháp đầu tiên của Việt Nam đó là chính phủ Trần Trọng Kim được Hoàng đế Bảo Đại ủy nhiệm sau khi Ngài tuyên bố độc lập ngày11 tháng 3 năm 1945”.

Còn Lê Công Định, một người đã từng vào tù vì tội lật đổ chính quyền thì vênh váo xuyên tạc rằng “Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp. Tranh thủ sự ủng hộ của người Việt, cùng những nước Á châu khác đang bị Nhật chiếm đóng, Nhật trao trả độc lập cho Việt Nam. Từ ngày 19-8-1945, tại các địa phương trên cả nước, Việt Minh tiến hành đảo chính cướp chính quyền, buộc nhà nước Đế quốc Việt Nam chuyển giao quyền lực, một sự kiện mà sau đó được gọi là “Cách mạng tháng Tám”.

Nguyễn Minh Cần, kẻ sống lưu vong, bán nước cầu vinh thì lại tráo trở khi nói rằng, “Lịch sử chứng minh rõ ràng đó là sự dối trá: Việt Minh (tức đcs) cướp chính quyền không phải từ tay Nhật, Pháp mà là từ tay Chính phủ Trần Trọng Kim”.

Sự kiện cách mạng tháng Tám thành công và vai trò của nó đối với lịch sử cũng như sự thật lịch sử của sự kiện này đã được các thế hệ người Việt khẳng định chắc chắn. Thế nhưng vì những mục đích, động cơ khác nhau, không ít người vẫn cố tình xuyên tạc, bôi đen, không dám thừa nhận sự kiện này. Có thể nói, những con người đó, những kẻ đó chính là những kẻ xuyên tạc lịch sử mà thôi.

Việt Nguyễn

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2015

“PHÁT HUY DÂN CHỦ” – CẦN XUẤT PHÁT TỪ HAI PHÍA

Dân chủ là vốn dĩ là một từ cao đẹp và chả có tội nợ gì. Tuy nhiên ở nước ta "dân chủ" được các anh chị chí phèo, tâm thần, hợm người hiếp dâm liên tục trong chục năm qua thành thử cái từ cao quý ấy bị nhem nhuốc. Nghe đến "phong trào dân chủ" cứ hình dung mấy chục con cá mòi nằm vật vạ bên bờ Hồ hay chị Bùi Hằng há to mồm chửi rủa chính quyền bằng những từ khó nghe?




Có lẽ rất ít trong số chúng ta ngồi đọc cho hết bản Hiến Pháp nước ta. Nếu đã đọc hết Hiến pháp, chúng ta phải thừa nhận rằng Hiến pháp nước ta là Hiến pháp xây dựng một đất nước dân chủ thực sự. Ngoài việc xác định những điều căn bản về nhân quyền như Hiến pháp của bất kỳ một quốc gia văn minh nào, Hiến pháp nước ta còn đảm đảo quyền quyền làm chủ đất nước của nhân dân mà không phải dân nước nào cũng có: 
-  Sở hữu công đất đai, tài nguyên thiên thiên nhiên, các ngành kinh tế trọng yếu
- Cách xây dựng Hội đồng Nhân dân các cấp đến Quốc hội từ đó bầu ra hành pháp. Cơ cấu giám sát hành pháp ở các cấp. 
Và trên hết cái bản Hiến pháp ấy có cơ chế để một người dân bất kỳ thực thi quyền làm chủ đất nước thể hiện ở ba phương diện:
- Bầu ra người đại diện cho mình.
- Thể hiện quan điểm của mình.
- Truyền đạt ý kiến của mình đến cơ quan quyền lực cao nhất là Quốc hội. 
Tất nhiên từ Hiến pháp đến đời sống là một khoảng cách. Để Hiến pháp được thực thi, phát huy hết vai trò của nó là điều ai cũng mong muốn. Và đây chính là đòi hỏi dân chủ. Những con hợm khoác áo "dân chủ", những kẻ hoang tưởng thay vì đòi hỏi, đấu tranh để Hiến pháp được đi vào đời sống lại hô hào đạp đổ chế độ, nghĩa là xé bỏ Hiến pháp đi. Thế, nên ở Việt Nam vẫn chưa có một ông, một bà nào xứng đàng được gọi là nhà dân chủ. 

Như đã nói ở trên từ Hiến pháp được viết trên giấy đến cuộc sống thực tế là một khoảng cách nên người ta phải soạn tiếp bao nhiêu văn bản luật dưới Hiến pháp, các Nghị định hướng dẫn, cốt là cụ thể hoá thực thi dân chủ. 

Cụm từ "phát huy dân chủ" mà ta thường nghe thực chất là nỗ lực hiện thực hoá các quyền dân chủ của người dân được Hiến pháp bảo đảm. "Phát huy dân chủ" là vấn đề nghiêm túc mà lãnh đạo Đảng, Chính Phủ mong muốn và nỗ lực để đạt được, hoàn toàn không phải nói cho vui, cho có cái nói. Chả ai dại xướng lên một điều mình không muốn rồi không làm để ăn chửi cả. Các bạn hãy tưởng tượng mình ở vị trí ông Tổng Bí Thư Nguyễn Trọng xem, các bạn có muốn phát huy dân chủ cơ sở không? Dân chủ cơ sở ngon lành thì người dân sẽ tham gia nghị sự nhiều hơn và tất nhiên sẽ tố những ông Đảng Viên hủ hoá cho ra ngô ra khoai. Các bạn chắc không lạ mấy vụ sai phạm ở địa phương mà các ông chủ tịch xã không khác cường hào ác bá hồi xưa. Phát huy dân chủ cơ sở cái lợi trước hết là gõ đầu mấy ông hủ hoá này. 

Xin trở lại với vấn đề chính "phát huy dân chủ ", xin đưa vài nhận xét và đóng góp. Nếu ví Quốc Hội - Chính phủ là ông chồng, người dân là bà vợ thì "phát huy dân chủ" là vấn đề vướng mắc của hai vợ chồng dù cả hai đều muốn thực hiện. Minh họa thô thiển nhưng dễ hình dung là cặp vợ chồng này trục trặc chăn gối, cả hai không biết nói chuyện với nhau thế nào để giải quyết. Cần phải có sự chủ động cả hai phía. 

Khung cảnh điều hiu vắng vẻ ở các buổi đại biểu tiếp xúc cử tri dẫn đến một hệ quả ở tầm vĩ mô hơn là Đại Biểu Quốc hội không nắm được điều gì cử tri Tỉnh mình mong muốn nhất để trình bày trước Quốc hội. Họ đành phải đọc báo và lắng nghe dư luận trên mạng xã hội. 
Cái cảm giác xa lạ với chính cơ quan quyền lực nhất đất nước (mà mình uỷ thác cho nó thực thi quyền làm chủ đất nước của mình) chắc nhiều người gặp phải, căn nguyên cũng từ yếu kém dân chủ cơ sở mà ra. Các bạn hãy tưởng tượng đi nếu ở xã, phường mà mấy buổi tiếp xúc cử tri xôm tụ, đông nghịt người, phát biểu rần rần, cật vấn tranh cãi gay gắt xem. Thế nào nguyện vọng của đa số cử tri chả được chuyển lên đại biểu cấp cao hơn và lọt ra nghị trường. 

Chúng ta hãy tự hỏi mình xem, có bao giờ các bạn đem vấn đề buc xúc của mình trình bày với các ông Hội Đồng và nói "ông làm sao làm phải chuyển được ý kiến này lên trên" ? Đa phần chúng ta trèo lên lên mạng xã hội xả stress. Ý kiến của chúng ta chìm nghỉm giữa một rừng phát ngôn, các bài báo lều vớ vẩn view cao ngất ngưỡng. Và các bạn chớ quên mạng xã hội tiếng Việt không chỉ dành cho công dân Việt Nam chúng ta mà còn dành cho các con hợm quốc tịch Mỹ, Úc...biết nói tiếng Việt. Ngay cả Facebook thì Mark Zukerberg cũng đã triệt tiêu sự công bằng khi phát ngôn của người dùng với chính sách ép mua quảng cáo. Vậy thì thử hỏi ý kiến của các bạn có lọt tới tai Đại Biểu Quốc hội không? Không phủ nhận báo chí, mạng xã hội là một kênh thể hiện tự do ngôn luận và cũng đóng góp vào thực thi dân chủ nhưng nó không thể thay thế cách thức thông thường là tiếp xúc cử tri- đại biểu. 

Thế đấy, người dân muốn dân chủ hơn nữa để tiếng nói mình có trọng lượng, Đảng- Chính Phủ muốn "phát huy dân chủ". Ấy thế tiến trình này lại tiến chậm rì. Lỗi ở ai? 

Xin nhắc lại là từ cả hai.

Bảo Bình

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2015

KHI ĐỒNG TIỀN LÀ THƯỚC ĐO CHO NGHỀ “ZÂN CHỦ”

Trong cuộc sống ai cũng muốn kiếm cho mình một cái nghề, kiếm được một công việc ổn định để nuôi sống bản thân và gia đình. Có những người tìm kiếm cho mình một công việc phù hợp với khả năng, những công việc chân chính, lương thiện để kiếm sống nhưng cũng có những người để kiếm sống họ sẵn sàng làm bất cứ nghề nào, cho dù những nghề đó bị xã hội lên án, bị mọi người dè bĩu, vi phạm pháp luật.


Dưới góc độ bài viết này, tác giả xin được nói về một trong những “nghề”, đó là nghề “zân chủ”. Có người sẽ hỏi nghề “zân chủ” là gì? Trong xã hội cũng có cái “nghề” này hay sao? Những người hành nghề “zân chủ” nhằm mục đích gì?...

Trước hết, nói về nghề “zân chủ”. Tạm hiểu là, đây là từ dùng để nói về một “nghề” đang trở nên “hot” ở Việt Nam, chỉ những người dưới cái mác đấu tranh đòi “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” để chống chính quyền, chống Đảng, chống Nhà nước. Đây là một “nghề” đang được một số người xác định là “cần câu cơm” của mình.


Mọi người hẳn sẽ rất ngạc nhiên khi nói về trường hợp của “zân chủ” Trương Văn Dũng (Dũng xe ôm). Xuất thân từ một người buôn ma tuý, sau khi được ra tù Dũng hành nghề xe ôm. Cái nghề này cũng chẳng giúp Dũng trang trải được cuộc sống hàng ngày, đừng nói là sắm được cái này cái kia. Thế mà, sau khi được một số người lôi kéo đi tham gia tuần hành, biểu tình vào các ngày thứ 7 và chủ nhật hàng tuần nhằm chống chính quyền, 2 năm sau Dũng đã tậu được nhà và có cuộc sống có thể nói là gấp nhiều lần trước đây. Hỏi ra mới biết là, với các mác nhà “zân chủ”, cùng với đó sẵn thói hung hăng của một anh chàng đã từng dính đến ma tuý, Trương Văn Dũng luôn tỏ ra rất tích cực chửi bới chính quyền, chửi bới những người làm nhiệm vụ trong các lần hô hào biểu tình chống Trung Quốc, tượng niệm Hải chiến Hoàng Sa, Gạc Ma, chiến tranh biên giới… Dũng đã được một số cá nhân, tổ chức ở bên ngoài tuồn tiền vào để tích cực hoạt động chống đối lần sau. Thế là, cứ mỗi lần hô hào biểu tình chống chính quyền, Dũng lại là người tỏ ra sốt sắng và tích cực nhất.

Chẳng phải nói đâu xa, khi ông Nguyễn Thanh Giang (một người hành nghề zân chủ lâu năm) cùng với ông Nguyễn Thượng Long và một số người khác lập ra và duy trì hoạt động của cái gọi là “tập san Tổ quốc” đăng tải các bài viết có nội dung kích động chống chính quyền, chống Nhà nước Việt Nam, thế là chỉ trong một thời gian ngắn, ông Thanh Giang đã nhận được hàng chục nghìn USD từ các cá nhân, tổ chức bên ngoài gửi về. Thế là chẳng cần phải làm gì nhiều, ông Thanh Giang, ông Thượng Long chỉ làm mỗi công việc là ngồi viết bài hoặc tập hợp các bài viết có nội dung chống chính quyền để đăng tải lên “tập san” mà vẫn có một cuộc sống được gọi là “sung túc”.

Nguyễn Văn Đài cùng với một số “anh em” trong “Hội anh em dân chủ” cũng là một điển hình. Gần như Đài chẳng có việc làm gì sau khi ở tù về. Là một người chống chế độ có thâm niên (Đài từng bị xử lý về tội tuyên truyền chống nhà nước), thế nhưng Đài vẫn có tiền để duy trì cái gọi là câu lạc bộ “Hội anh em dân chủ” của mình. Không những vậy, Đài vẫn có một cuộc sống “sung túc”, có tiền để phân phát cho các anh em trong câu lạc bộ. Vậy, tiền này lấy ở đâu? Chẳng phải là tiền từ các tổ chức, cá nhân bên ngoài gửi về để dung túng, để hậu thuẫn cho Nguyễn Văn Đài và đồng bọn hoạt động chống chính quyền hay sao?

Vợ chồng “zân chủ” Phạm Hồng Sơn (Thuỵ Khê, Hà Nội) cũng không phải ngoại lệ. Phạm Hồng Sơn chẳng có một công việc gì cho ra trò, công việc chính của Sơn dường như là viết bài nói xấu, vu cáo chế độ, sau đó là nhận tiền từ bên ngoài gửi về. Hết tiền là lại viết bài, nhận tiền rồi lại viết bài.

Thế mới biết, thực chất của cái tham gia “zân chủ”, trở thành các “lều zân chủ” ở Việt Nam chẳng có gì khác ngoài kiếm tiền. Đấu tranh cho lý tưởng, cho “dân chủ”, “nhân quyền” gì chứ khi những người tham gia chẳng lấy có nổi một chút nghề nghiệp, trình độ và đạo đức để làm nó. Thử hỏi, nếu không có tiền số kia cho hành nghề “zân chủ” không? Câu trả lời, có lẽ là khô…….ng!

Việt Nguyễn 

 
Chia sẻ